Nóng : Yêu cầu Bố phải có bằng tốt nghiệp mới được khai sinh cho con

0
74

Khi tôi đi đăng ký khai sinh cho con, cán bộ phường yêu cầu xuất trình chứng minh thư, hộ khẩu và bằng tốt nghiệp các cấp. Tuy nhiên, tôi không còn giữ bằng tốt nghiệp thì có được khai sinh cho con không và cán bộ phường đòi thêm bằng tốt nghiệp như vậy có đúng không?

Điều 9 Nghị định 123/2015/NĐ-CP quy định về các giấy tờ nộp và xuất trình khi đăng kí khai sinh như sau:

Ảnh:Internet

Người yêu cầu đăng ký khai sinh tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã) nộp các giấy tờ theo quy định tại Khoản 1 Điều 16 của Luật Hộ tịch.
Cụ thể, theo quy định tại khoản 1 Điều 16 Luật Hộ tịch 2014 thì Người đi đăng ký khai sinh nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy chứng sinh cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Trường hợp không có giấy chứng sinh thì nộp văn bản của người làm chứng xác nhận về việc sinh; nếu không có người làm chứng thì phải có giấy cam đoan về việc sinh; trường hợp khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi phải có biên bản xác nhận việc trẻ bị bỏ rơi do cơ quan có thẩm quyền lập; trường hợp khai sinh cho trẻ em sinh ra do mang thai hộ phải có văn bản chứng minh việc mang thai hộ theo quy định pháp luật.

Loading...

Người yêu cầu đăng ký khai sinh tại Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp huyện) nộp các giấy tờ theo quy định tại Khoản 1 Điều 36 của Luật Hộ tịch.

Trong đó, Người đi đăng ký khai sinh nộp giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Luật này cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Trường hợp cha hoặc mẹ hoặc cả cha và mẹ là người nước ngoài thì phải nộp văn bản thỏa thuận của cha, mẹ về việc chọn quốc tịch cho con. Trường hợp cha, mẹ chọn quốc tịch nước ngoài cho con thì văn bản thỏa thuận phải có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước ngoài mà người đó là công dân.

Ảnh:Internet

Ngay sau khi nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy thông tin khai sinh đầy đủ và phù hợp, công chức làm công tác hộ tịch ghi nội dung khai sinh theo quy định tại Điều 14 của Luật này vào Sổ hộ tịch; trường hợp trẻ em có quốc tịch nước ngoài thì không ghi nội dung quy định tại điểm c khoản 1 Điều 14 của Luật này.

Công chức làm công tác hộ tịch, người đi đăng ký khai sinh cùng ký tên vào Sổ hộ tịch. Phòng Tư pháp báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp Giấy khai sinh cho người được đăng ký khai sinh. Chính phủ quy định thủ tục đăng ký khai sinh đối với các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 35 của Luật này.

Người yêu cầu đăng ký khai sinh xuất trình giấy tờ theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 của Nghị định 123/2015/NĐ-CP.

Luật sư Phạm Thị Bích Hảo, Giám đốc Công ty luật TNHH Đức An, Thanh Xuân, Hà Nội khẳng định,căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định 123/2015/NĐ-CP người yêu cầu đăng ký hộ tịch xuất trình bản chính một trong các giấy tờ là hộ chiếu, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân hoặc giấy tờ khác có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp, còn giá trị sử dụng (sau đây gọi là giấy tờ tùy thân) để chứng minh về nhân thân. Trường hợp cha, mẹ của trẻ đã đăng ký kết hôn thì còn phải xuất trình giấy chứng nhận kết hôn.

Như vậy, nếu bạn đã xuất trình bản chính chứng minh thư hoặc thẻ căn cước, giấy chứng sinh, giấy đăng ký kết hôn, tờ khai thì không phải xuất trình thêm giấy tờ khác.

 

Xem thêm: Tin vui: Năm 2018, một lần nữa mức trợ cấp thai sản sẽ tăng thêm, nhìn số tiền cộng thêm thấy đẻ xong lời ngay một khoản lớn

Là lá la!!! Sao tin vui tới bất ngờ đến với các mẹ bỉm sữa tụi em kịp lúc vầy nè.
Chiều nay mới có thông tin chính thức: Từ ngày 01/7/2018, mức trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi (gọi tắt là trợ cấp thai sản) sẽ được tăng thêm 180.000 đồng so với mức trợ cấp hiện hành.
Để hiểu mức tăng này hơn là hơn thế nào, em nhắc lại các mẹ nhớ nha:
Vào hồi 01/7/2017, mức trợ cấp thai sản đã được điều chỉnh. Cụ thể mức tăng hơn 7,4% so với mức hiện hành lúc bấy giờ. Lý do là mức lương cơ sở tăng. Theo đó, Căn cứ vào Khoản 2 Điều 3 của Nghị định 47/2017/NĐ-CP, mức lương cơ sở từ 01/7/2017 ở mức 1.210.000 đồng/tháng đã được nâng lên thành 1.300.000 đồng/tháng.
Khi tin này được thông báo chính thức và áp dụng rộng khắp, rất nhiều mẹ vui mừng.Thế nhưng mọi thứ không chỉ dừng lại ở đó.
Tin vui là sang năm sau, từ 01/7/2018, mức trợ cấp thai sản cũng sẽ được điều chỉnh một lần nữa, tăng lên 2.780.000 đồng, thêm được 180.000 đồng, tương đương tăng 6,923% so với mức trợ cấp đã được tăng từ 01/7/2017 (2.600.000 đồng).
Trợ cấp thai sản mới nhất này được tăng lên là do Nghị quyết về dự toán ngân sách Nhà nước năm 2018 vừa được Quốc hội thông qua ngày vào ngày 13/11/2017 mới đây. Trong đó có nêu rõ mức lương cơ sở sẽ tăng từ 1.300.000 đồng/tháng lên thành 1.390.000 đồng/tháng. Mức tăng này sẽ được chính thức áp dụng kể từ ngày 01/7/2018.
Đây là thông tin quan trọng, gắn liền với quyền lợi của các mẹ khi mang thai và sau sinh nở. Do đó các mẹ cần phải hiểu rõ, nắm kỹ, hiểu thông để không bị thiệt thòi nha. Mẹ nào chưa biết điều kiện hưởng thai sản hoặc chưa nắm rõ trong năm 2018 mình sẽ được “cộng thêm” những điều luật bổ sung nào thì tham khảo thêm thông tin dưới đây nha:
8 ĐIỀU LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI MỚI BỔ SUNG VỀ CHẾ ĐỘ NGHỈ THAI SẢN NĂM 2018
1. Luật bảo hiểm xã hội bổ sung chế độ thai sản cho người chồng:
– Trường hợp chỉ có cha tham gia bảo hiểm xã hội: Lúc này nếu vợ sinh con, cha được trợ cấp một lần bằng 2 tháng lương cơ sở cho mỗi con. Ngoài ra, chồng đóng BHXH khi vợ sinh con thì cũng được nghỉ việc từ 5 đến 14 ngày cho phép theo chế độ thai sản. Cụ thể số ngày nghỉ như sau:
+ Nghỉ 5 ngày làm việc nếu mẹ sinh thường;
+ Nghỉ 7 ngày làm việc nếu vợ sinh con phải phẫu thuật, và con sinh con dưới 32 tuần tuổi;
+ Nghỉ 10 ngày làm việc nếu vợ sinh đôi. Từ sinh 3 trở đi thì mỗi đứa con cộng thêm 3 ngày làm việc;
+ Nghỉ 14 ngày làm việc nếu vợ sinh đôi trở lên mà phải phẫu thuật.
Lưu ý: Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định tại khoản này được tính trong khoảng thời gian 30 ngày đầu kể từ ngày vợ sinh con.
2. Chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau thai sản
Theo quy định, chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau thai sản là từ 5-10 ngày trong khoảng thời gian 30 ngày đầu làm việc. Cái này là điểm khác so với quy định trước đây là áp dụng trong 1 năm nha các mẹ. Em ví dụ nhé: Nếu mẹ có thời gian nghỉ dưỡng sức và phục hồi sức khỏe từ cuối năm 2017 chuyển tiếp sang đầu năm sau, năm 2018 thì thời gian nghỉ đó thì vẫn được tính cho năm trước nếu theo quy định trước đây. Nhưng giờ thì căn cứ 30 ngày đầu làm việc thôi ạ.
Mức hưởng chế độ dưỡng sức và phục hồi sức khỏe sau thai sản một ngày sẽ được quy định chung là bằng 30% số mức lương cơ sở. Còn trước đó là chỉ được hưởng có 25% thôi nha các mẹ. Cái này mẹ nào lương cao thì mức tăng cũng đáng kể lắm á!
Ngoài ra, nếu mẹ là giáo viên hay giảng viên có dịp nghỉ hè theo đúng quy định nhà nước mà sinh đúng vào tháng hè thì bạn sẽ được nghỉ bù thêm 2 tháng nữa. Có nghĩa là nghỉ tổng cộng 8 tháng nhưng BHXH sẽ không tính lương cho 2 tháng nghỉ bù.
3. Chế độ thai sản sau sinh mà mẹ mất hoặc con mất

Sinh con xong mà không may con mất thì theo quy định được nghỉ 4 tháng tính từ ngày sinh con. Bên cạnh đó, căn cứ Điều 38 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 (còn áp dụng đến năm 2018) về trợ cấp một lần khi sinh con:
“Điều 38: Trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi
Lao động nữ sinh con hoặc người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì được trợ cấp một lần cho mỗi con bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng lao động nữ sinh con hoặc tháng người lao động nhận nuôi con nuôi”.
Vậy nên, trường hợp mất con sau sinh, mẹ sẽ được nhận một khoản trợ cấp bằng 02 lần lương cơ sở.
Ngoài ra, sau khi sinh con mà sức khỏe của người mẹ còn yếu thì có thể được nghỉ dưỡng sức phục hồi sức khỏe sau khi sinh theo quy định tại Điều 41 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 (còn áp dụng đến năm 2018) như sau:
Lao động nữ ngay sau thời gian hưởng chế độ thai sản quy định tại Điều 33, khoản 1 hoặc khoản 3 Điều 34 của Luật này, trong khoảng thời gian 30 ngày đầu làm việc mà sức khỏe chưa phục hồi thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ từ 05 ngày đến 10 ngày. Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe bao gồm cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.
Trường hợp có thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe từ cuối năm trước chuyển tiếp sang đầu năm sau thì thời gian nghỉ đó được tính cho năm trước.
Số ngày nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe quy định tại khoản 1. Điều này do người sử dụng lao động và Ban Chấp hành công đoàn cơ sở quyết định, trường hợp đơn vị sử dụng lao động chưa thành lập công đoàn cơ sở thì do người sử dụng lao động quyết định. Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe được quy định như sau:
1.a) Tối đa 10 ngày đối với lao động nữ sinh một lần từ hai con trở lên;
2.b) Tối đa 07 ngày đối với lao động nữ sinh con phải phẫu thuật;
3.c) Tối đa 05 ngày đối với các trường hợp khác.
Mức hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản một ngày bằng 30% mức lương cơ sở.
Trường hợp mẹ mất sau khi sinh:
Theo quy định của pháp luật, trường hợp cả cha và mẹ đều tham gia BHXH mà mẹ chết sau khi sinh con thì cha được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản đối với thời gian còn lại của mẹ.. Mức hưởng chế độ thai sản sẽ tính bằng mức bình quân 06 tháng liền kề mức tiền lương đóng BHXH trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản của người cha. Trường hợp, cha mới tham gia BHXH mà chưa đóng đủ 06 tháng thì mức hưởng sẽ tính trên mức bình quân tiền lương đóng BHXH những tháng đã đóng BHXH của cha.
Nếu mẹ không đủ điều kiện được hưởng chế độ thai sản khi sinh con thì cha hay người trực tiếp nuôi dưỡng sẽ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi con đủ 6 tháng tuổi và nếu cha, người trực tiếp nuôi không nghỉ việc thì ngoài tiền lương đó cũng còn được hưởng chế độ thai sản với thời gian còn lại của mẹ theo quy định.
4. Đi làm trước hạn

Quy định mới về đi làm trước hạn sẽ được NÂNG thời gian sau khi sinh con từ đủ 60 ngày trở lên tăng lên ít nhất là 4 tháng. Luật mới cũng quy định rõ người nghỉ thai sản cần phải báo trước và được người sử dụng lao động đồng ý thì bạn mới được nghỉ. Ngoài tiền lương của những ngày làm việc đó thì mẹ nào đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con bạn vẫn được hưởng chế độ thai sản cho đến khi đủ 6 tháng.

5. Chế độ sẩy thai, nạo hút thai hoặc thai chết lưu

Trong trường hợp sẩy thai, hay nạo hút thai hoặc thai chết lưu,thì các lao động nữ được nghỉ 10 ngày nếu thai dưới 5 tuần tuổi, nghỉ 20 ngày Còn nếu thai từ 5 tuần tuổi đến dưới 13 tuần tuổi thì bạn được nghỉ 40 ngày. còn nếu thai từ 13 tuần – 25 tuần tuổi thì nghỉ 50 ngày nếu thai của bạn từ 25 tuần tuổi trở lên.
6. Chế độ thai sản khi nhận con nuôi
Thời gian nghỉ thai sản khi nhận con nuôi được điều chỉnh như sau: khi con đủ 4 tháng tuổi trở lên cho đến khi con đủ 6 tháng tuổi. Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia bảo hiểm xã hội đầy đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản theo quy định thì chỉ cha hoặc mẹ được nghỉ việc hưởng chế độ.
7. Điều kiện hưởng chế độ thai sản
Trường hợp lao động nữ sinh con, nhờ mang thai hộ, mang thai hộ, nhận nuôi con nuôi đều phải đáp ứng đủ các điều kiện:
– Đóng BHXH từ đủ 06 tháng trở lên trong vòng 12 tháng trước khi sinh con hay nhận nuôi con nuôi.
– Nếu phải ngưng việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám chữa bệnh thì phải đóng BHXH từ đủ 3 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con mới được hưởng chế độ thai sản.
– Nếu đủ điều kiện đóng BHXH mà chấm dứt hợp đồng lao động trước khi sinh con, nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì vẫn được hưởng chế độ thai sản theo quy định.
Đặc biệt, bổ sung thêm trường hợp chỉ có cha tham gia BHXH thì khi vợ sinh con, cha được trợ cấp một lần bằng 2 tháng lương cơ sở cho mỗi con.
8. Thai sản cho người mang thai hộ
Từ 1-1-2016 khi có Luật BHXH mới thì chính sách cho người mang thai hộ mới bắt đầu được áp dụng. Cụ thể:
Người mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản về khám thai, sẩy thai hay nạo hút và thai chết lưu… tính từ thời điểm mang thai cho đến thời điểm giao đứa trẻ thì cho người mẹ nhờ mang thai hộ nhưng thời gian đó phải không được vượt quá 6 tháng.
Nếu từ ngày sinh con đến thời điểm giao con mà thời gian hưởng chế độ thai sản chưa đủ 60 ngày thì vẫn được hưởng chế độ thai sản cho đến khi đầy đủ 60 ngày, trong đó đã bao gồm luôn cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.
Ngoài ra, người mẹ nhờ mang thai hộ cũng được hưởng chế độ thai sản từ thời điểm nhận con cho đến khi con đủ 6 tháng tuổi như những bà mẹ khác nhé!
ĐIỀU KIỆN HƯỞNG CHẾ ĐỘ THAI SẢN
Trường hợp lao động nữ sinh con, mang thai hộ, nhờ mang thai hộ, nhận nuôi con nuôi thì phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 06 tháng trở lên trong vòng 12 tháng trước khi sinh con hay nhận nuôi con nuôi thì được hưởng chế độ thai sản.
Lao động nữ sinh con đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 12 tháng trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám chữa bệnh thì phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 3 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con mới được hưởng chế độ thai sản.
Lao động đủ điều kiện mà chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc trước khi sinh con, nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì vẫn được hưởng chế độ thai sản theo quy định.
Luật Bảo hiểm xã hội còn bổ sung trường hợp chỉ có cha tham gia bảo hiểm xã hội thì khi vợ sinh con, cha được trợ cấp một lần bằng 2 tháng lương cơ sở cho mỗi con.

CHẾ ĐỘ THAI SẢN KHI SINH CON NHƯ THẾ NÀO?

– Mức trợ cấp thai sản: Hưởng 100% bình quân tiền lương hàng tháng của 6 tháng liền kề trước khi sinh. Ngoài ra, các mẹ còn được hưởng trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận con nuôi dưới 4 tháng tuổi tương đương với mức 2 tháng lương tối thiểu chung cho mỗi bé.
– Thời gian nghỉ phép: Các mẹ được quyền nghỉ trước và sau thời gian sinh con 6 tháng. Nhưng thời gian nghỉ trước khi sinh không được phép vượt quá 2 tháng. Nếu đa thai, từ bé thứ 2 trở đi, mẹ sẽ được cộng thêm 1 tháng vào thời gian nghỉ. Trường hợp đặc biệt, nếu muốn được nghỉ thêm, mẹ có thể xin nghỉ phép nghỉ mà không được hưởng lương. Nếu có đủ sức khỏe làm việc trước thời gian nghỉ phép, mẹ vẫn nhận được trợ cấp thai sản theo quy định ngoài tiền lương cho những ngày làm việc của mình.
– Hỗ trợ sau khi sinh: Trong vòng 30 ngày, kể từ ngày làm việc đầu tiên sau khi nghỉ theo chế độ nghỉ thai sản, bạn có quyền xin nghỉ thêm để phục hồi sức khỏe, và được nhận 30% lương tối thiểu chung/ngày trong trường hợp nghỉ tại nhà, hoặc 40% lương tối thiểu chung/ngày nếu nghỉ tại cơ sở tập trung. Cụ thể ngày nghỉ như sau:
+ Nghỉ 5 ngày/ năm trong những trường hợp bình thường
+ Nghỉ tối đa 7 ngày/ năm trong trường hợp sinh mổ
+ Nghỉ tối đa 10 ngày/ năm trong trường hợp mang đa thai.

Bình luận

bình luận

Loading...